Tập 3: Hướng dẫn viên nhí

Một buổi chiều mùa hè năm chuyển cấp lớp 5 lên lớp 6, San đến thư viện cùng mẹ rồi sang sân bảo tàng chơi. Mùa hè, gió biển thổi vào mát rượi nhưng nắng oi ả chiếu xuống cả cái sân lát đá mênh mông tỏa hơi nóng hầm hập. Tòa nhà bảo tàng màu đen và đồ sộ đầy người vào ra tấp nập. Trên những bậc thang dẫn lên Bảo tàng có đủ kiểu người khác nhau: những đoàn khách du lịch hối hả lên xuống, người phương Tây cao to, da cháy nắng đỏ au, quần lửng áo ngắn tay, ngực đeo máy ảnh; người Hàn Quốc đeo khẩu trang kín mít, mặc quần áo dài như giữa mùa đông, các bà tóc xoăn tít, đội cái mũ có lưỡi trai rất to nhưng lại hở cả đầu; các bạn trẻ Việt Nam đứng xúm xít phía trước để chụp ảnh tự sướng; có nhiều người dân địa phương cũng ngồi hóng gió, nhiều bà cầm bát cơm đuổi theo đứa cháu, và còn rất nhiều cô dâu chú rể cùng thợ ảnh đang mướt mồ hôi xách váy đi đi lại lại. 
San đến chỗ băng ghế đá quen ngồi đọc sách thì thấy có một cậu bé nước ngoài trạc tuổi mình cũng đang ngồi ở đó chơi game trên Ipad. San lựa chỗ ngồi cách bạn kia một khoảng vừa phải rồi lấy quyển truyện Harry Potter bằng tiếng Anh đang đọc dở ra bắt đầu đọc. San tò mò về cậu bé kia lắm nhưng ngại không muốn làm phiền bạn nhưng lại vẫn muốn tìm cách để bắt chuyện nên cứ giơ giơ cái bìa quyển sách kiểu khoe khoe để chờ bạn ấy phải hỏi cơ. Y như rằng, chỉ vài phút sau thì hai cậu đã bắt chuyện với nhau và San được dịp trổ tài nói tiếng Anh tưng bừng với cậu bạn mới quen.
Hóa ra, cậu bạn Colin này cũng vừa mới đến Việt Nam chưa được một tuần và sẽ ở Việt Nam hai tháng cùng mẹ. Mẹ của Colin là cô Elsa, chuyên gia của Thư viện Anh, sang trợ giúp Bảo tàng và Thư viện Quảng Ninh về công tác lập hồ sơ lưu trữ. Colin kém San một tuổi nhưng cao hơn San, cái mặt bụ bẫm có tàn nhang và tóc màu đỏ hoe rất nổi bật. Colin biết mẹ San cũng làm việc bên thư viện và San trạc tuổi mình lại giỏi tiếng Anh giao tiếp như thế thì khoái lắm. Chiều đó hai bạn ngồi nói chuyện với nhau tới tận lúc Bảo tàng đóng cửa mới chịu ngậm ngùi chia tay và không quên trao đổi email, hẹn hôm sau giờ đó giờ đó lại đến đúng chỗ băng ghế này để gặp nhau.
[COLIN]: 
- San à, mai lại đem sách gì đến đây đọc chung nhỉ? Hay là đem ống nhòm ngắm cảnh vịnh? 
[SAN] (hồ hởi): 
- Ống nhòm hay đấy! Đúng ba rưỡi nhé, cũng chỗ này Colin nhá!
Thế là mùa hè năm ấy San với Colin có cả hai tháng đi cùng nhau suốt. Hai bạn thân nhau rất nhanh xong chẳng biết từ lúc nào mà đọc truyện tranh cũng phải chụm đầu đọc cùng một quyển vừa để cho vui vừa để dễ bàn tán. Đầu tiên mẹ Colin còn ngại Colin chưa quen nơi mới nên hai đứa chỉ quanh quẩn trong bảo tàng, ngoài sân, về lại thư viện. Sau giờ ăn trưa là giờ mà Colin gọi là Quiet time là khoảng thời gian một tiếng hàng ngày cậu hạn chế nói chuyện mà chỉ đọc, viết, hay suy nghĩ. 
San rất thích thói quen của Colin nên hàng ngày cứ ăn trưa cùng nhau trong căng-tin xong là hai bạn lại dẫn nhau xuống trạm đọc yêu thích của San rồi mỗi cậu lại làm một việc riêng trong im lặng. Mỗi người một quyển sách, một quyển sổ nhỏ, một cây bút chì do cô Elsa sắm cho. Có hôm Colin đọc và ghi chép, có hôm lại chỉ ngồi nghĩ ngợi, thỉnh thoảng ghi gì đó vào sổ và vẽ một vài hình mông lung. Tuy trong một tiếng đó không ai nói gì với ai nhưng hai bạn đều thấy rất hòa đồng trong hoạt động bồi dưỡng trí tuệ và tâm hồn thật nhẹ nhàng và không khiên cưỡng.
Ấy thế nhưng xin chớ nhầm là hai “đại trí thức” của chúng ta chỉ có làm những việc trí tuệ và bác học như thế cả ngày. Colin đầy năng lượng, lúc nào cũng hồ hởi, cái gì cũng dám làm, dám thử khiến cho San ban đầu hơi rụt lại vì tự ti, rồi sau bị cuốn theo. Dần dà Colin được đạp xe loanh quanh những đoạn đường vắng với San, khi thì dừng lại rình chụp ảnh một con tắc kè bám trên thân cây phượng, lúc lai cùng ngồi xem một ván cờ vua các bác già chơi trên vỉa hè. Có hôm khác San đi theo San lên trường chơi. San quen bác bảo vệ nên xin bác cho dẫn Colin vào tham quan. Mùa hè sân trường vắng chỉ có cây phượng chốc chốc lại rụng hoa. San ngồi vào bàn học cũ của lớp 5 mà San mới chia tay để chuẩn bị lên không chỉ lớp mới mà còn cấp học mới trưởng thành hơn. San thấy chỉ sau vài tuần nghỉ hè mà San hình như không còn là San cũ nữa.
Nhờ nói chuyện với Colin hàng ngày mà tiếng Anh của San tốt lên rất nhanh. San lâu nay chỉ học thứ tiếng Anh máy móc ở sách giáo khoa ở trường, bổ sung bằng những cuộc trò chuyện ngắn gọn, không có chiều sâu với những người khách du lịch gặp nhanh ở bảo tàng. Tiếng Anh của San ai không biết thì nghe thấy liến láu ấn tượng chứ thực ra là không có phương pháp, nền tảng một cách có hệ thống. Biết được điểm yếu của việc học tiếng Anh qua sách vở và trò chuyện không sâu sắc, San cố gắng đọc nhiều để bổ sung từ vựng và quan trọng hơn là kiến thức về cuộc sống và con người ở những vùng đất xa xôi. Tuy thế, không có sách vở nào dạy được cho San những thứ kiến thức mà Colin đã dạy San. Lớn lên với cha mẹ là học giả, Colin mang đến từ London thứ tiếng Anh của Nữ Hoàng chuẩn chỉnh để khi cần có thể nói chuyện như một quý ông thực thụ. Thế nhưng cậu ấy cũng là hiện thân của óc khôi hài đặc biệt của người Anh, thứ đùa ý nhị, tinh tế, tinh nghịch. Colin dạy cho San những thứ trò nghịch đùa, những câu đồng dao, những câu trêu chọc nhau, những lời cách ngôn tếu, những trò chơi đố chữ của trẻ em Anh cùng lứa với hai bạn. Đó là thứ tiếng Anh phập phồng hơi thở đời sống mà người ta không thể học qua sách vở. Colin đã giúp San bước chân vào hẳn trong thế giới của tiếng Anh so với lúc trước chỉ là người đứng quan sát bên ngoài. Từ chỗ nghĩ về tiếng Anh hơi có phần sợ sệt, nể nang, sùng kính giờ San thấy tiếng Anh chỉ như một thứ công cụ có thể dùng thoải mái cả để đọc sách và nói chuyện nghiêm túc, cả để nghịch đùa.
Việc phát âm lúc đầu còn chưa thật tốt, San hay phải nhờ mẹ con Colin chỉ cho cách phát âm từ cho chuẩn. Từ khi mẹ Colin dạy cho cách phát âm theo phiên âm quốc tế, San thấy lý thú, lại có trò mới là tự đọc theo phiên âm trước rồi đối chiếu với phát âm trên máy sau, xem đúng sai thế nào, tự cho điểm mình. Thỉnh thoảng San dẫn mẹ Colin và Colin đi chợ, làm phiên dịch cho hai mẹ con và các bà bán hàng. Lại có những khách hỏi con này con gì, con kia con gì; các bác tiểu thương nhân tiện nhờ San dịch. Lần đầu tiên còn hơi ú ớ, tối về San tra gần hết tên tiếng Anh của các thức có bán trong chợ. San in hẳn một tờ chuyên về cá khô cho cô bán hàng khô, phòng khi có khách hỏi còn nói được. Về sau các bác trong chợ thấy San là đùa, gọi San là “chuyên gia”.
Nhưng tất cả những thứ ấy: phát âm chuẩn, nghe được, đọc được đối với San chỉ là những chiếc chìa khóa nhỏ để San mở một tòa nhà khác, là một thứ gì dịu dàng nhưng mênh mang mà San còn chưa gọi được tên.
*
Mùa hè năm ấy là thời gian của San và Colin ở xứ sở diệu kỳ. Hai người bạn cùng khám phá thế giới mới lạ với mỗi người ở cái tuổi mà mỗi điều mới mẻ đều để lại những ấn tượng thật sâu xa, làm người ta cảm thấy rung động thấu tâm can. Nhờ có San mà Colin được trải nghiệm Hạ Long như một người địa phương chứ không chỉ là một người khách du lịch. Tương tự, nhờ có Colin, San được nghe kể về Bảo tàng Anh, Thư viện Anh, Tháp London, Đồng hồ Big Ben, Cung điện Buckingham từ góc nhìn của người đã được trải nghiệm trực tiếp những địa danh như thuộc về thế giới thần tiên, mơ màng nào đó. San tưởng tượng được ngồi trên vòng quay London Eye nhìn xuống sông Thames một ngày mùa đông kinh thành London mù sương trắng. San thấy mình đi bộ ở bùng binh Piccadilly Circus, vừa đi vừa ăn món fish and chips trứ danh của người Anh. San sống mải mê cả mùa hè đó trong cuộc chuyển mình trong tâm tưởng trở thành một công dân toàn cầu chuẩn mực. Người ta là công dân toàn cầu thực thụ khi người ta cảm thấy gắn bó với những gì là thân thiết trong tâm thức của thế giới không kém gì với những thứ gần gũi của quê hương thường nhật.
Giữa tháng Tám, cô Elsa sắp xong dự án và Colin sắp phải về để đi học lại. Hai bạn cố dành thật nhiều thời gian những ngày trước khi chia tay với nhau. Ngày cuối trước khi Colin về, hai bạn rủ nhau lên núi Bài Thơ chơi. Đường lên núi rất dốc nhưng toàn những bậc thang đá lát xi măng bằng phẳng nên không khó đi lắm. Hai bên đường là những bụi trúc rậm như rừng mát rượi, xanh tốt, tựa như lạc vào một thế giới khác, không còn cái oi ả của trưa hè xứ nhiệt đới gió mùa. Hai đứa đều thấm mệt, áo ướt vắt ra nước đang định ngồi nghỉ thì nhận ra mình đã lên đến đỉnh. Khung cảnh bao la nhìn từ đỉnh núi thật xứng đáng với những gì hai đứa đã trải qua để đến được đây. Cả hai cùng kêu lên một tiếng “Wow!”. Những hòn núi xanh xanh đặc trưng của Vịnh Hạ Long bày ra giữa mênh mông biển nước như ai đó ném xuống một cách ngẫu nhiên. Cả thành phố Hạ Long hiện ra phía dưới, cầu Bài Thơ băng ngang mặt nước dưới chân núi. San chỉ cho Colin thấy tòa nhà thư viện màu đen nằm lấp ló phía xa sau một quả núi nữa. Gió thổi lồng lộng. Nhưng thú vị nhất là những con dê đủ màu nâu, đen, trắng đang gặm cỏ giữa lởm chởm đá vôi. Thấy có người chúng kêu lên be be. Colin lấy ra một cái la bàn là quà tặng của ông ngoại bạn và một cái bản đồ thành phố Hạ Long và chỉ cho San cách xem các hướng trên la bàn. Lấy chỗ đang đứng là Núi Bài Thơ làm tâm, Colin quay về hướng tây bắc và chỉ cho San thấy đằng kia là cầu Bãi Cháy đúng như bản đồ vẽ. Hướng Tây là khu Bãi Cháy với Công viên Sun World và Cáp treo, phía xa xa còn thấy cả Đảo Tuần Châu. Ngay trước mặt, hướng nam, đông nam có hòn Giếng Gối, hòn Hang Đinh. 
Ngày hôm sau, cô Hoa đưa San đến khách sạn của mẹ con cô Elsa từ sáng sớm. Lúc đầu hai mẹ định là San sẽ cùng đi ra sân bay Nội Bài tiễn Colin nhưng phút cuối San nói với mẹ là nếu đi như thế thì San sẽ rất buồn trên quãng đường dài quay về Hạ Long sau khi tiễn bạn. Mẹ Hoa và mẹ Elsa cũng đồng ý là thế thôi để hai bạn chia tay nhau ở Hạ Long luôn. San và Colin ra đứng chỗ mép nước cạnh bến tầu du lịch, Colin giúi vào tay San cái la bàn mà cậu ấy rất quý. San tặng lại những thứ đồ kỷ niệm thích nhất của Hạ Long, những chiếc vỏ ốc đẹp mê hồn mà San sưu tầm được và rất quý. Hai bạn hứa với nhau sẽ giữ liên lạc qua email và mạng internet, và sẽ gọi điện thường xuyên. Colin nói như đinh đóng cột là sẽ gặp lại nhau sớm. Nếu không phải đi cùng với mẹ về lại Hạ Long thì trước khi vào đại học cậu ấy sẽ đi du lịch để được về thăm lại San.
[COLIN]
-    San ơi, xong trung học, học sinh bên Anh được nghỉ hẳn một năm để đi chơi cho thỏa chí, lúc đó thể nào mình cũng quay lại đây. 

[SAN]
-    Nhớ đấy, mình sẽ dẫn cậu đi khắp Việt Nam luôn, cả Sơn Đoòng đúng như giao kèo.
***
Hai tuần sau khi Colin về Anh đối với San là một quãng thời gian thật vô cùng buồn. San mất ăn mất ngủ và dành thật nhiều thời gian để tìm hiểu về London, về những chuyến bay từ Việt Nam đến Anh. San mơ có ngày sẽ đi tầu hỏa đi từ Hải Phòng sang tận Anh rồi Colin ra đón ở ga. Cô Hoa chú Sơn cứ đùa là khiếp San nhớ Colin gì mà còn gấp nhiều lần xưa bố mẹ nhớ nhau. Ban đầu thì hai bạn nhắn tin, viết thư cho nhau hàng ngày nhưng rồi vào năm học mới chắc cả hai cậu đều phải làm quen với môi trường học mới, bạn mới nên việc thư từ liên lạc cũng hơi thưa đi. San lại quay về nếp cũ mỗi tuần vài buổi chiều vẫn đến thư viện và bảo tàng. Lần nào San cũng cố tìm đến ngồi ở ghế đá cũ nơi hai cậu bạn gặp nhau lần đầu.
Một buổi sáng Chủ nhật chừng 10h, San đi chạy bộ về thì thấy bố Sơn đang có khách. Khách là một cụ ông trên 70 tuổi, rất rắn rỏi. Mắt ông sáng, giọng cười vang nhà, và tiếng nói hào sảng giọng Hòn Gai rõ ràng nhưng như có hơi lẫn tí âm sắc ngoại ngữ. Thấy San về đứng đó chào bố và khách, bố Sơn gọi San lại và nói:
[BỐ SƠN]
-    San lại đây con, ông Sóng đến chơi có việc muốn bàn về San này.
San nhận ra đây là ông Sóng, người nổi tiếng ở cả Hòn Gai. Cha mẹ ông trước khi đi làm thợ thuyền cho Pháp ở Tân Đảo tít tận Nam Thái Bình Dương. Đầu những năm 60, lúc còn là một cậu bé 14 tuổi, ông Sóng đã cùng cha mẹ rời Tân Đảo về lại miền Bắc, phải làm quen lại với tiếng Việt, với đời sống của một cậu bé Việt Nam. Ông lớn lên làm thợ, lập gia đình, rồi sống như một người Hòn Gai bình thường. Khi Việt Nam bắt đầu mở cửa, khách du lịch nước ngoài lục tục đến Hạ Long nhiều hơn, ông Sóng là một trong số ít người trong vùng biết cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh nên trở thành hướng dẫn viên địa phương được rất nhiều hãng du lịch nổi tiếng thế giới biết đến và tin dùng. Đỉnh cao là khi Pháp quay bộ phim Đông Dương có diễn viên Catherine Deneuve, ông Sóng đã được mời làm trưởng nhóm hỗ trợ để giúp dịch, lo hậu cần, hướng dẫn đoàn phim tới những chỗ đẹp nhất, bí mật nhất của vịnh Hạ Long để quay phim. Bộ phim ấy ngay lập tức trở thành một tác phẩm kinh điển. Còn ông Sóng và vợ ông là bà Thịnh sau đó mở một nhà hàng nhỏ tên là Văn Sóng Restaurant ở Hạ Long. Ở đó, hai ông bà đón tiếp rất nhiều khách nước ngoài đến thăm; họ là những người biết đến Hạ Long và yêu Hạ Long qua bộ phim Đông Dương ấy. Nhà hai ông bà ở cách nhà San không xa nên những câu chuyện về ông Sóng thì San đã được nghe khá nhiều.
Thấy San, ông Sóng cười rất tươi và mời San ngồi xuống cạnh ông trên ghế divan. Ông Sóng nói:
-    Này San! Bác nghe nhiều người khen là tiếng Anh của San rất tốt. Mấy người khách nước ngoài tới nhà hàng của bác có kể lại là San đưa họ đi thăm bảo tàng và hướng dẫn rất hay, rất chi tiết và tiếng Anh quá tuyệt vời so với tuổi này.  
[SAN]
-    Dạ Cảm ơn bác ạ! Cháu còn phải cố gắng nhiều ạ.
[BÁC SÓNG]
-    Thế này nhá. Bác mới nhận được lời đề nghị của một hãng du lịch nổi tiếng hạng nhất thế giới nhờ tìm một người hướng dẫn nhỏ tuổi để đón tiếp các khách du lịch đi cùng gia đình có trẻ em. Người hướng dẫn nhí đó sẽ giúp giới thiệu cho các bạn trẻ về vịnh Hạ Long. Hôm nay bác qua đây để nói chuyện với bố mẹ và San để xem San có quan tâm hợp tác với bác làm người hướng dẫn tí hon đó không? 
[SAN]
-    Quá tuyệt vời bác ơi. Nhưng cháu phải đi học nên không biết có theo bác được không…
[BÁC SÓNG]
-    Đừng lo! Các chuyến thăm sẽ chỉ là các dịp cuối tuần hay ngoài giờ học nên không ảnh hưởng gì tới việc học của cháu đâu.
Ban nãy bố Sơn bảo kệ cho San tự quyết định. Vậy bác và bố chờ quyết định từ cháu nhé.
[SAN]
-    Hay quá. Bố mẹ cho cháu quyết định thì cháu đồng ý cả hai tay ạ. Cần phải chuẩn bị về kiến thức như thế nào mong bác cho cháu biết ạ.
Ông Sóng lại cười khà khà thật phóng khoáng. Ông hỏi San vài câu chuyện hoàn toàn không hề có ý kiểm tra trình độ của San. Trước khi về ông Sóng rút trong túi ra một cái hộp nhỏ trông xa đã biết là quý giá. Ông đưa cái hộp cho San và nói. 
-    Có món quà này, hãng du lịch nhờ bác gửi cho người hướng dẫn viên nhỏ tuổi được chọn. Bác thấy San hoàn toàn xứng đáng với vị trí này. Đây là món quà mà bác mong San luôn giữ bên người. 
[SAN]
-         Cảm ơn bác! Cháu sẽ không bao giờ làm mất nó đâu ạ.
Ông Sóng về rồi, San với bố Sơn mở mãi mới được cái hộp. Trong hộp có để trang trọng một chiếc huy hiệu có hình hai chiếc chìa khóa mầu vàng bắt chéo nhau trên dòng chữ tiếng Pháp Clefs d’Or (Những chìa khóa vàng). Trong hộp cũng có một dây kim loại chắc chắn có thể xỏ vào huy hiệu kia rồi đeo vào cổ. San lắp dây vào huy hiệu xong rồi choảng dây vào cái cổ khẳng khiu. Hai chiếc chìa khóa vàng sang trọng như thuộc về một thế giới hạng nhất nào đó treo lửng lơ trên ngực San còn mướt mồ hôi chưa kịp khô trông chẳng hợp gì cả, nhưng nó khiến San có một cảm giác hãnh diện tuy mơ hồ nhưng đáng yêu thật lạ.